Chi tiết tin

A+ | A | A-

Kết quả phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại xã Tiên Phước, điểm nghẽn và đề xuất giải pháp

Người đăng: Quản trị xã Tiên Phước Ngày đăng: 13:47 | 14/10/2026 Lượt xem: 166

Tiên Phước là xã trung du miền núi phía Tây Nam của thành phố Đà Nẵng, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại. Toàn xã có diện tích tự nhiên 74,63 km², trong đó đất nông nghiệp 6.563,94 ha, riêng đất trồng cây lâu năm 2.510,68 ha. Địa hình bán sơn địa, khí hậu tương đối thuận lợi cùng hệ sinh thái vườn đặc trưng của vùng trung du xứ Quảng đã tạo nên cảnh quan xanh, đa dạng, từng được ví như “Nam Bộ thu nhỏ”, “miền Tây giữa lòng miền Trung”.

Điểm nổi bật của Tiên Phước không chỉ nằm ở diện tích đất vườn lớn mà còn ở truyền thống và kinh nghiệm làm vườn đã được tích lũy qua nhiều thế hệ. Người dân địa phương từ lâu đã hình thành phương thức canh tác đa cây, đa con, đa tầng, tận dụng hiệu quả điều kiện đất đai, khí hậu và đặc điểm từng khu vườn. Đây là nền tảng quan trọng để Tiên Phước phát triển kinh tế vườn theo hướng sinh thái, tuần hoàn và bền vững.

Trên những khu vườn Tiên Phước đã hình thành hệ thống cây trồng khá phong phú, trong đó nhiều loại cây đặc sản đã tạo được thương hiệu như Măng cụt, Lòn bon, Cau, Bưởi da xanh, Sầu riêng, Hồ tiêu. Đặc biệt, Hồ tiêu Tiên Phước đã được cấp Chỉ dẫn địa lý trong năm 2026, mở thêm cơ hội nâng cao giá trị, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường cho sản phẩm nông nghiệp địa phương.

Toàn xã hiện có 1.317 hộ có diện tích vườn từ 1.000 m² trở lên, 136 vườn đạt tiêu chí vườn mẫu; 15 cơ sở chăn nuôi quy mô trang trại, gồm 05 cơ sở quy mô vừa và 10 cơ sở quy mô nhỏ. Đây là nền tảng sản xuất quan trọng để địa phương tiếp tục tổ chức lại sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi và phát triển các mô hình sản xuất hàng hóa có quy mô phù hợp.

Một lợi thế khác của Tiên Phước là kinh tế vườn có khả năng tích hợp nhiều giá trị trên cùng một không gian. Bên cạnh giá trị nông sản, địa phương còn có cảnh quan Hố Quờn, Đồng Cây Dừa, Ao Cá, 05 ngôi nhà cổ và các nghề, sản phẩm truyền thống như mo cau, trầm hương… Đây là điều kiện thuận lợi để chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp đơn thuần sang phát triển kinh tế vườn đa giá trị, kết hợp sản xuất, chế biến, thương mại, trải nghiệm văn hóa và du lịch sinh thái.

Có thể khẳng định, kinh tế vườn không chỉ là một lĩnh vực sản xuất mà đã trở thành một thế mạnh mang tính đặc trưng của Tiên Phước, gắn với sinh kế của người dân, cảnh quan nông thôn và bản sắc vùng trung du xứ Quảng.

Xác định kinh tế vườn, kinh tế trang trại là thế mạnh đặc trưng và là một trong những hướng phát triển kinh tế quan trọng của địa phương, Tiên Phước đã có quá trình quan tâm, đầu tư và tổ chức thực hiện liên tục qua nhiều giai đoạn. Đây không phải là định hướng mới hình thành mà được thai nghén, kế thừa từ thực tiễn sản xuất lâu đời của người dân, từng bước được cụ thể hóa bằng các chủ trương, cơ chế, chính sách và chương trình hỗ trợ phù hợp.

Ngay từ năm 2012, HĐND huyện Tiên Phước (cũ) đã ban hành Nghị quyết khuyến khích phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, chăn nuôi. Giai đoạn 2017-2025, địa phương tiếp tục ban hành và triển khai Đề án 03 về phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại mang đặc trưng vùng trung du xứ Quảng; Đề án này sau đó được tỉnh Quảng Nam (cũ) nhân rộng, cụ thể hóa thành Nghị quyết số 35/2021/NQ-HĐND ngày 29/9/2021 của HĐND tỉnh quy định cơ chế hỗ trợ phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2021-2025. Qua nhiều năm thực hiện, các cơ chế hỗ trợ đã từng bước đi vào thực tiễn, tạo động lực để người dân cải tạo vườn tạp, mở rộng diện tích cây trồng có giá trị, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và phát triển các mô hình sản xuất hiệu quả.

Điều quan trọng hơn là từ quá trình đó, tư duy làm vườn của người dân Tiên Phước từng bước chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa và nâng cao giá trị trên cùng một đơn vị diện tích. Phương thức sản xuất đa cây, đa con, đa tầng theo hướng “lấy ngắn nuôi dài” tiếp tục được kế thừa, đồng thời từng bước gắn với sản xuất an toàn, kinh tế tuần hoàn, liên kết tiêu thụ và xây dựng sản phẩm đặc trưng. Qua đó, kinh tế vườn ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân và tạo dựng cảnh quan nông thôn đặc trưng của Tiên Phước.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, Tiên Phước tiếp tục xác định kinh tế vườn, kinh tế trang trại không chỉ là lợi thế cần gìn giữ mà phải được nâng lên thành động lực tăng trưởng của địa phương. Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Tiên Phước lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND ngày 29/5/2026 của HĐND thành phố Đà Nẵng về chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2026-2030, UBND xã đã xây dựng, ban hành Đề án phát triển nông nghiệp nông thôn, kinh tế vườn, kinh tế trang trại gắn với du lịch sinh thái giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035.

Đặc biệt, tháng 9/2026, Đảng ủy xã ban hành Nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, du lịch sinh thái. Đây là cơ sở quan trọng để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị, đồng thời xác định rõ hơn hướng phát triển của kinh tế vườn Tiên Phước trong giai đoạn mới: không chỉ chú trọng mở rộng sản xuất mà tập trung nâng cao giá trị; gắn sản xuất với chế biến, xây dựng thương hiệu, liên kết thị trường, du lịch sinh thái và chuyển đổi số.

Trong tổ chức thực hiện, xã quán triệt tinh thần “6 rõ” theo Chỉ thị số 19-CT/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng; phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và người đứng đầu; tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; tiếp tục tổ chức đánh giá, phân hạng vườn mẫu gắn sao, lựa chọn và nhân rộng những mô hình có hiệu quả.

Có thể khẳng định, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xuyên suốt, kế thừa qua nhiều giai đoạn chính là một trong những nền tảng quan trọng giúp Tiên Phước duy trì và phát huy thế mạnh kinh tế vườn, kinh tế trang trại. Trên nền tảng đó, địa phương đang từng bước chuyển từ phát triển kinh tế vườn theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng, tạo tiền đề để kinh tế vườn thực sự trở thành một trong những động lực phát triển kinh tế của xã trong giai đoạn 2026-2030.

Đến tháng 6/2026, tổng diện tích kinh tế vườn toàn xã đạt hơn 1.768 ha. Trong giai đoạn 2021-2025, địa phương đã hỗ trợ phát triển 367 vườn và 03 trang trại, với tổng kinh phí trên 15 tỷ đồng. Hiệu quả kinh tế từ vườn ngày càng được thể hiện rõ, với giá trị thu nhập bình quân khoảng 170 triệu đồng/ha, đóng góp khoảng 42% giá trị sản xuất nông nghiệp của xã. Những con số này cho thấy kinh tế vườn không còn chỉ là nguồn thu bổ trợ của hộ gia đình mà đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng của kinh tế nông nghiệp Tiên Phước. Quy mô một số cây trồng chủ lực tiếp tục được duy trì và phát triển, gồm măng cụt 248 ha, cau 169 ha, lòn bon 109 ha, bưởi da xanh 49 ha, sầu riêng 31 ha và hồ tiêu 26,5 ha.

Cùng với mở rộng sản xuất, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và nâng cao chất lượng sản phẩm từng bước được chú trọng. Địa phương đã xây dựng 10 ha măng cụt, 05 ha bưởi da xanh sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 5,29 ha măng cụt được cấp mã số vùng trồng. Từ sản phẩm của kinh tế vườn, giá trị được tiếp tục nâng lên thông qua chế biến và phát triển sản phẩm OCOP. Toàn xã hiện có 18 sản phẩm OCOP; 11/30 hợp tác xã tham gia liên kết chuỗi giá trị sản xuất - tiêu thụ. Nhiều sản phẩm như rượu vang lòn bon, mít sấy, chuối sấy, sản phẩm từ mo cau, trầm hương… đã góp phần kéo dài chuỗi giá trị, chuyển dần từ bán nông sản thô sang chế biến, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường.

Đặc biệt, thực tiễn tại địa phương đã xuất hiện nhiều mô hình cho thấy một khu vườn nếu được tổ chức sản xuất hợp lý có thể tạo ra giá trị kinh tế đáng kể.

Tiêu biểu là mô hình vườn măng cụt kết hợp đa cây của thầy giáo Thái Nguyên Khoa, thôn Hữu Lâm, quy mô hơn 1 ha, thu nhập trên 300 triệu đồng/năm; mô hình vườn tiêu theo hướng kinh tế tuần hoàn của ông Nguyễn Thế Giới, thôn Địch Tây, diện tích hơn 5.500 m², doanh thu khoảng 175 triệu đồng/năm, lợi nhuận khoảng 125 triệu đồng/năm.

Mô hình cải tạo vườn tạp của ông Huỳnh Bắc Nam, thôn Tiên Phú Đông, với diện tích gần 2 ha đã hình thành vườn cây ăn quả đa dạng gồm măng cụt, sầu riêng, bưởi da xanh, lòn bon, cau. Mô hình nông nghiệp tuần hoàn của ông Dương Công Quyền, thôn Địch Tây, kết hợp 5 ha măng cụt trồng xen cacao, chăn nuôi 50 con dê cái lai và ao nuôi cá nước ngọt, cho thấy tiềm năng phát triển mô hình sản xuất tuần hoàn, đa giá trị.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, mô hình nuôi chồn hương của ông Nguyễn Tư, thôn Tiên Thọ, có quy mô đàn hơn 300 con, thu nhập trên 100 triệu đồng/năm.

Bên cạnh đó, các mô hình vườn sinh thái gắn với du lịch của ông Phạm Ngọc Lương tại thôn Tiên Mỹ, ông Ngô Minh Hòa tại thôn Trà Lai; các trang trại của ông Dương Thái Xuân Tuấn, ông Mai Duy Vũ, bà Nguyễn Thị Ngọc Thọ cùng nhiều mô hình khác đang từng bước tạo nên bức tranh đa dạng của kinh tế vườn, kinh tế trang trại trên địa bàn.

Những kết quả trên cho thấy lợi thế lớn nhất của Tiên Phước là đã có sẵn nền tảng kinh tế vườn tương đối rộng, có lực lượng hộ làm vườn đông, có cây trồng đặc sản, có mô hình hiệu quả, có sản phẩm OCOP và có cảnh quan để phát triển du lịch. Vấn đề đặt ra trong giai đoạn mới là tổ chức lại những nguồn lực này thành chuỗi giá trị lớn hơn, trong đó chuyển đổi số phải trở thành công cụ để kết nối sản xuất với thị trường.

IV. NHỮNG ĐIỂM NGHẼN CẦN TẬP TRUNG THÁO GỠ

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế vườn, kinh tế trang trại của Tiên Phước vẫn chưa phát huy tương xứng với tiềm năng.

Thứ nhất, về quy mô sản xuất và hạ tầng. Đất vườn còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán theo hộ gia đình, gây khó khăn cho việc hình thành vùng sản xuất tập trung và tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Hạ tầng giao thông nội đồng, thủy lợi, hệ thống tưới tại một số vùng sản xuất chưa đồng bộ.

Các khu vực có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái vườn như Hố Quờn, Đồng Cây Dừa, Ao Cá và các nhà cổ gắn với vườn truyền thống chưa được đầu tư tương xứng; một số hạ tầng thiết yếu như đường vào điểm vườn, bãi đỗ xe, nhà vệ sinh công cộng, biển chỉ dẫn còn thiếu.

Thứ hai, về khoa học kỹ thuật và chuyển đổi số. Việc ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, quản lý sản xuất bằng nền tảng số còn khiêm tốn. Diện tích sản xuất VietGAP, diện tích được cấp mã số vùng trồng còn thấp so với tổng diện tích kinh tế vườn.

Thứ ba, về thị trường và liên kết chuỗi. Tỷ lệ sản phẩm OCOP, sản phẩm chủ lực được đưa lên sàn thương mại điện tử và mạng xã hội mới đạt khoảng 27,8%; việc truy xuất nguồn gốc, quảng bá và xúc tiến thương mại trên môi trường số còn hạn chế. Các mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ trong lĩnh vực trồng trọt chưa nhiều, chưa hình thành được vùng nguyên liệu ổn định gắn với doanh nghiệp thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Thứ tư, giá trị du lịch từ kinh tế vườn chưa được khai thác tương xứng. Du lịch sinh thái vườn, du lịch cộng đồng mới ở giai đoạn đầu, chưa hình thành được sản phẩm đặc trưng có khả năng kết nối thành tour, tuyến; việc quảng bá và liên kết với doanh nghiệp lữ hành còn hạn chế.

Thứ năm, tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu ngày càng lớn. Thực tế cơn bão số 9 năm 2020 đã làm gãy đổ hàng loạt vườn cây ăn quả lâu năm, trong đó nhiều vườn sầu riêng đang cho thu nhập cao gần như mất trắng. Đây là rủi ro lớn đối với cây lâu năm và ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý đầu tư dài hạn của người dân.

Từ tiềm năng, thế mạnh và những điểm nghẽn nêu trên, Tiên Phước xác định thời gian đến cần chuyển mạnh từ phát triển kinh tế vườn theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng liên kết; từ sản xuất nông sản sang phát triển kinh tế vườn đa giá trị; từ quản lý truyền thống sang từng bước ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số.

Trước hết, địa phương sẽ rà soát các khu vực có diện tích vườn liền kề, vận động người dân liên kết hình thành vùng sản xuất tập trung quy mô từ 5-10 ha, ưu tiên đối với các cây trồng chủ lực như măng cụt, hồ tiêu, sầu riêng, bưởi da xanh. Trên cơ sở đó, từng bước đầu tư đồng bộ hạ tầng, áp dụng quy trình sản xuất thống nhất, xây dựng mã số vùng trồng và kết nối doanh nghiệp tiêu thụ.

Hai là, xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ số các vùng trồng chủ lực; mở rộng diện tích được cấp mã số vùng trồng; triển khai nhật ký sản xuất điện tử, mã QR truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm OCOP và Hồ tiêu Tiên Phước đã được cấp Chỉ dẫn địa lý.

Ba là, tập trung phát triển thị trường số. Ưu tiên đưa các sản phẩm có khả năng bảo quản, vận chuyển và thương mại hóa cao như rượu vang lòn bon, mít sấy, chuối sấy, sản phẩm từ mo cau, trầm hương lên các nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội; đào tạo kỹ năng bán hàng đa kênh cho hợp tác xã, hộ sản xuất; phấn đấu nâng số sản phẩm kinh doanh trên nền tảng số từ 05 sản phẩm hiện nay lên 15 sản phẩm vào năm 2030.

Bốn là, khai thác mạnh hơn giá trị cảnh quan và văn hóa của không gian vườn. Trước mắt tập trung số hóa, quảng bá Hố Quờn, Đồng Cây Dừa, Ao Cá và các vườn mẫu tiêu biểu; xây dựng 02-03 mô hình “vườn số” thí điểm, kết hợp nhật ký điện tử, mã QR, ứng dụng công nghệ trong sản xuất với hoạt động tham quan, trải nghiệm, thưởng thức trái cây tại vườn.

Năm là, ưu tiên nguồn lực đầu tư giao thông nội đồng, thủy lợi, hệ thống tưới, hạ tầng internet tại các vùng sản xuất tập trung; đồng thời từng bước hoàn thiện hạ tầng tối thiểu tại các điểm có khả năng phát triển du lịch sinh thái.

Sáu là, tăng cường khả năng thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu; nghiên cứu thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đối với một số cây lâu năm có giá trị kinh tế cao; ứng dụng nền tảng số trong cảnh báo sớm thời tiết cực đoan, giúp người dân chủ động bảo vệ sản xuất.

Để khai thác hiệu quả tiềm năng và đưa kinh tế vườn thực sự trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của địa phương, UBND xã Tiên Phước kính đề nghị UBND thành phố và các sở, ngành quan tâm một số nội dung:

Quan tâm bố trí, lồng ghép các nguồn lực đầu tư hạ tầng sản xuất, hạ tầng số và hạ tầng phục vụ phát triển du lịch sinh thái tại những khu vực có tiềm năng.

Xã Tiên Phước đã xây dựng Đề án phát triển nông nghiệp nông thôn, kinh tế vườn, kinh tế trang trại gắn với du lịch sinh thái giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035, với tổng kinh phí 105.262,5 triệu đồng, trong đó đề nghị ngân sách thành phố hỗ trợ 79.942,0 triệu đồng, chiếm 76%.

Qua rà soát nhu cầu thực tế, hiện có 219 hộ đăng ký thực hiện các nội dung hỗ trợ theo Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND, trong đó năm 2026 có 134 hộ, năm 2027 có 85 hộ, với tổng kinh phí đề nghị hỗ trợ hơn 20 tỷ đồng. Vì vậy, kính đề nghị thành phố quan tâm ưu tiên bố trí nguồn kinh phí để địa phương kịp thời triển khai chính sách, tạo động lực cho người dân đầu tư phát triển sản xuất.

Đồng thời, đề nghị hỗ trợ địa phương xây dựng nền tảng dữ liệu số, bản đồ số vùng trồng, hệ thống truy xuất nguồn gốc; kết nối các sàn thương mại điện tử, doanh nghiệp tiêu thụ, doanh nghiệp lữ hành và tổ chức đào tạo kỹ năng số cho nông dân, hợp tác xã.

Tiên Phước có lợi thế không phải bắt đầu xây dựng kinh tế vườn từ con số không. Địa phương đã có đất vườn, có cây đặc sản, có kinh nghiệm của người dân, có những vườn mẫu và mô hình sản xuất hiệu quả, có sản phẩm OCOP, có cảnh quan và bản sắc văn hóa để phát triển du lịch. Đây chính là nguồn lực nội sinh quan trọng để Tiên Phước tạo bước phát triển mới trong giai đoạn tới.

Mục tiêu của địa phương không chỉ là làm cho khu vườn cho nhiều sản phẩm hơn, mà quan trọng hơn là làm cho giá trị thu được trên mỗi khu vườn ngày càng cao hơn; một sản phẩm có thể được nâng giá trị qua chế biến, xây dựng thương hiệu, thương mại điện tử và truy xuất nguồn gốc; một khu vườn vừa tạo ra nông sản, vừa tạo cảnh quan, gìn giữ văn hóa và có thể trở thành không gian trải nghiệm du lịch.

Với nền tảng đã được tạo dựng qua nhiều năm, cùng sự quan tâm của thành phố và quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân địa phương, xã Tiên Phước xác định phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại theo hướng sinh thái, tuần hoàn, đa giá trị và gắn với chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Tiên Phước lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

Qua đó, từng bước xây dựng Tiên Phước trở thành vùng kinh tế vườn đặc trưng, có giá trị cao, gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến, thương mại và du lịch sinh thái của thành phố Đà Nẵng.

Tác giả: UBND xã

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

icon

Tài liệu kỳ họp HĐND

icon

Nghị quyết HĐND

icon

Bản đồ hành chính

icon

Danh mục

icon

Thăm dò ý kiến

Bạn cảm thấy website của chúng tôi như thế nào ?
icon

Thống kê truy cập

Tổng số lượt truy cập

0000391692

Đang truy cập: 38
Hôm nay: 308
Hôm qua: 2596
Tháng này: 41220
Tháng trước: 53782