Chi tiết tin

A+ | A | A-

Cụ Huỳnh Thúc Kháng - tấm gương cao đẹp của bậc đại trí thức yêu nước, trọn đời phấn đấu vì tổ quốc, vì Nhân dân

Người đăng: Quản trị xã Tiên Phước Ngày đăng: 9:58 | 28/09/2026 Lượt xem: 285

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX, cụ Huỳnh Thúc Kháng là một trong những nhà yêu nước, nhà trí thức tiêu biểu, có cuộc đời gắn liền với những bước chuyển lớn của đất nước. Từ phong trào Duy Tân, 13 năm tù đày ở Côn Đảo, hoạt động nghị trường, báo chí đến những trọng trách trong Chính phủ cách mạng, Cụ luôn giữ trọn khí tiết, đặt lợi ích của Tổ quốc, Nhân dân lên trên hết, trước hết. Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ là dịp ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách cao đẹp của một bậc đại trí thức yêu nước, đồng thời nhận thức sâu sắc hơn những giá trị mà Cụ để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947)

Một cuộc đời gắn với vận mệnh dân tộc

Ngày 01/10/1876, tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng, Huỳnh Thúc Kháng ra đời trong một gia đình nhà Nho. Sinh ra và lớn lên trên quê hương giàu truyền thống yêu nước, hiếu học, trong bối cảnh đất nước đứng trước những thử thách lớn, Cụ sớm hình thành chí hướng và ý thức trách nhiệm đối với non sông, đất nước.

Tên lúc nhỏ của Cụ là Huỳnh Văn Thước, sau đi học gọi là Huỳnh Hanh, hiệu Minh Viên. Thông minh, ham học, có chí tiến thủ, Cụ đạt thành tích cao trong khoa cử: năm 1900 đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương, năm 1904 đỗ Tiến sĩ. Nhưng khác với con đường của nhiều người đỗ đạt đương thời, Cụ không lựa chọn bước vào quan trường để tìm kiếm công danh, phú quý. Trước cảnh nước mất, dân khổ, Cụ lựa chọn dấn thân vào con đường cứu dân, cứu nước, tìm kiếm những phương thức mới để chấn hưng dân tộc. Sự lựa chọn ấy là điểm khởi đầu cho một cuộc đời hoạt động không ngừng nghỉ vì dân, vì nước.

Đầu thế kỷ XX, trước sự khủng hoảng của con đường cứu nước theo phương thức cũ, nhiều sĩ phu yêu nước đã tìm đến những tư tưởng mới, chủ trương đổi mới giáo dục, mở mang dân trí, phát triển kinh tế, chấn hưng xã hội. Huỳnh Thúc Kháng là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào đó.

Năm 1905, Cụ cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp đi vào phía Nam, tìm hiểu tình hình thực tế, xem xét dân tình, sĩ khí, tìm kiếm những người cùng chí hướng và vận động cho phong trào Duy Tân. Năm 1906, trở về Quảng Nam, Cụ cùng các đồng chí khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân, vận động Nhân dân nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, phát triển dân sinh. Đây là một bước chuyển quan trọng trong cuộc đời Huỳnh Thúc Kháng: từ một nhà Nho có học vấn uyên thâm trở thành một chí sĩ trực tiếp dấn thân vào đời sống xã hội, tìm cách thức tỉnh đồng bào và góp phần thay đổi diện mạo đất nước.

Dấn thân trong phong trào Duy Tân - lấy Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh làm mục tiêu

Trong phong trào Duy Tân, Huỳnh Thúc Kháng cùng những người đồng chí hướng chủ trương đưa việc cứu nước gắn với việc nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí và cải thiện dân sinh. Cụ đặc biệt coi trọng thực học, học chữ Quốc ngữ, tiếp thu tri thức mới; đồng thời vận động mở trường tân học, phát triển thương nghiệp, lập thương hội, khuyến khích sản xuất, chấn hưng thực nghiệp.

Tư tưởng ấy thể hiện một nhận thức tiến bộ đối với hoàn cảnh đương thời: muốn đất nước phát triển thì trước hết phải làm cho người dân có tri thức, có năng lực tự chủ và có điều kiện cải thiện cuộc sống. Khai mở trí tuệ, nâng cao dân khí và phát triển dân sinh vì vậy không phải những nhiệm vụ tách rời mà là những nội dung gắn bó trong công cuộc chấn hưng đất nước.

Cụ tích cực tuyên truyền, diễn thuyết, vận động Nhân dân từ bỏ lối học khoa cử nặng về từ chương, chú trọng thực học, tiếp thu những tư tưởng tiến bộ; đồng thời khuyến khích phát triển kinh tế, cải thiện đời sống và nâng cao ý thức về quyền lợi của người dân.

Cùng với Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và các sĩ phu tiến bộ, Cụ góp phần đưa tư tưởng Duy Tân từ phạm vi một bộ phận sĩ phu trở thành một phong trào xã hội có sức lan tỏa ở Quảng Nam và nhiều tỉnh Trung Kỳ.

Điều đáng trân trọng là ở Huỳnh Thúc Kháng, tinh thần yêu nước luôn gắn với trách nhiệm đối với Nhân dân. Cụ không chỉ nói về vận mệnh quốc gia ở tầm khái quát mà quan tâm đến những vấn đề rất cụ thể của đời sống: học hành, sản xuất, thương nghiệp, thực nghiệp, tiết kiệm, dân sinh.

Chính từ thực tiễn ấy, hình ảnh một nhà trí thức yêu nước gần dân, hiểu dân và quan tâm đến những vấn đề thiết thân của dân ngày càng rõ nét.

Nhưng phong trào Duy Tân cũng phải đối diện với sự đàn áp khốc liệt của thực dân và chính quyền phong kiến.

Năm 1908, trong bối cảnh phong trào chống sưu, thuế lan rộng ở Trung Kỳ, chính quyền thực dân và Nam triều tiến hành đàn áp những người tham gia phong trào yêu nước. Ngày 24/2/1908, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt, sau đó bị kết án đày ra Côn Đảo. Tháng 9/1908, Cụ bắt đầu 13 năm lưu đày.

Mười ba năm Côn Đảo - thử lửa khí tiết và ý chí

Côn Đảo là nơi thử thách khắc nghiệt đối với những người yêu nước. Đối với Huỳnh Thúc Kháng, 13 năm tù đày là một chặng đời gian khổ, nhưng cũng là khoảng thời gian làm nổi bật bản lĩnh, khí tiết và sức mạnh tinh thần của Cụ.

Trong lao tù, Cụ không khuất phục. Cụ tiếp tục học tập, trao đổi tư tưởng với các tù nhân chính trị, ngâm thơ, xướng họa, bàn luận về thời cuộc, chính trị và con đường canh tân đất nước. Những hoạt động ấy giúp các tù nhân chính trị giữ vững tinh thần, củng cố tình đoàn kết và nuôi dưỡng ý chí đấu tranh.

Cụ còn tự học tiếng Pháp, nghiên cứu sách báo, tìm hiểu tình hình trong nước và thế giới, sáng tác văn thơ thể hiện lòng yêu nước, thương dân, tinh thần tự cường và niềm tin vào tương lai dân tộc. Cùng Phan Châu Trinh và Phan Thúc Duyên, Cụ tham gia viết Tuồng Trưng Vương, thể hiện ý thức tự tôn dân tộc và khát vọng bình quyền.

Điều đó cho thấy tù đày có thể giam hãm thân thể nhưng không thể khuất phục ý chí của một con người đã xác lập cho mình một mục tiêu sống.

Tháng 2/1921, sau 13 năm lưu đày, Cụ được trả tự do. Một chặng đường đầy gian khổ khép lại, nhưng con đường hoạt động vì dân, vì nước vẫn tiếp tục.

Trở về quê hương, Cụ không lựa chọn cuộc sống an nhàn của một người đã trải qua quá nhiều năm tù đày. Trái lại, Cụ tiếp tục tìm kiếm những phương thức phù hợp với hoàn cảnh mới để góp phần vào sự nghiệp dân tộc.

Trên nghị trường - một tiếng nói thẳng thắn vì dân quyền, dân sinh

Năm 1926, Cụ Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm dân biểu Trung Kỳ và được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Cụ xác định nghị trường là một diễn đàn công khai để nêu những vấn đề của Nhân dân, đấu tranh đòi những quyền lợi chính đáng và yêu cầu chính quyền thực dân thay đổi những chính sách bất hợp lý.

Trong hoạt động nghị trường, Cụ và các dân biểu tiến bộ đề xuất nhiều vấn đề liên quan đến cải cách chính trị, mở rộng quyền tham gia của người dân, giáo dục, kinh tế và đời sống xã hội. Cụ đề xuất phân định quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; mở rộng quyền hạn của Viện Dân biểu; trao quyền bầu cử cho người đóng thuế; xây dựng Thượng viện và Hạ viện.

Những đề xuất ấy cho thấy rõ khát vọng cải cách và ý thức bảo vệ quyền lợi Nhân dân của một trí thức yêu nước.

Nhưng Cụ cũng sớm nhận ra những giới hạn của một cơ chế nghị trường nằm trong khuôn khổ chế độ bảo hộ và sự can thiệp của chính quyền thực dân. Khi không thể tiếp tục thực hiện mục tiêu đấu tranh theo cách mình mong muốn, Cụ lựa chọn từ chức vào năm 1928.

Đó không phải sự từ bỏ lý tưởng, mà là sự thay đổi phương thức hoạt động để tiếp tục giữ vững mục tiêu.

Và một phương thức quan trọng khác đã được Cụ lựa chọn: báo chí.

Tiếng Dân - tiếng nói của lương tri, trách nhiệm và khí tiết

Ngày 10/8/1927, tại Huế, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Trong 16 năm hoạt động, từ năm 1927 đến 1943, báo đã xuất bản 1.766 số. Tiếng Dân ra đời trong điều kiện báo chí phải chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính quyền thực dân. Nhưng ngay từ đầu, tờ báo xác lập tôn chỉ cải cách, không xu phụ nhà cầm quyền và giữ tiếng nói độc lập.

Báo tập trung phản ánh những vấn đề thiết thân của đời sống xã hội; đề cập đến thuế khóa, kinh tế, đời sống dân chúng và những bất công đối với Nhân dân. Cụ Huỳnh yêu cầu thông tin phải được điều tra, xác minh; sai thì sửa, nhưng những vấn đề đã được kiểm chứng thì dù chịu sức ép vẫn kiên quyết đăng.

Đó là một quan niệm rất đáng chú ý về trách nhiệm xã hội của báo chí: thông tin phải trung thực, người làm báo phải có trách nhiệm với công chúng và không được dễ dàng đánh đổi nguyên tắc trước sức ép.

Trong thời kỳ vận động dân chủ 1936 - 1939, Tiếng Dân tiếp tục phản ánh các yêu cầu về dân sinh, dân chủ; đăng tải những ý kiến tiến bộ, góp phần tạo nên một diễn đàn công luận có ảnh hưởng ở Trung Kỳ.

Ngày 14/9/1936, Cụ công bố trên Tiếng Dân thư trả lời Ban Thường trực Dân nguyện Trung Kỳ, đề cập nhiều vấn đề về chính thể, dân quyền, bầu cử, giáo dục, y tế, báo giới, nông dân, lao động, tài chính và kinh tế.

Hoạt động của Tiếng Dân luôn nằm dưới sự theo dõi và kiểm duyệt của chính quyền thực dân. Mỗi số báo phải nộp bản Quốc ngữ và bản dịch tiếng Pháp để kiểm duyệt trước khi xuất bản. Có những bài biết trước sẽ bị cắt nhưng Cụ vẫn đưa kiểm duyệt; phần bị cắt được để trống trên mặt báo, qua đó cho độc giả nhận biết sự can thiệp của nhà cầm quyền. Cách làm ấy thể hiện rõ bản lĩnh của người chủ bút: không tự biến mình thành công cụ của sự kiểm duyệt, đồng thời giữ thái độ có trách nhiệm với sự thật và công chúng.

Tiếng Dân cũng thể hiện ý thức sâu sắc về chủ quyền quốc gia. Từ tháng 7/1938, trong bối cảnh tranh chấp Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật, báo đăng những bài viết của Sử Bình Tử, tức cụ Huỳnh Thúc Kháng, khẳng định Hoàng Sa thuộc nước Nam và viện dẫn các tư liệu lịch sử liên quan đến đội Hoàng Sa và Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn.

Ngày 24/4/1943, Tiếng Dân bị đình bản. Số báo cuối cùng mang số 1.766, khép lại 16 năm hoạt động của một tờ báo có ảnh hưởng lớn ở Trung Kỳ. Các tư liệu báo chí và nghiên cứu hiện có thống nhất về mốc ngày 24/4/1943.

Từ nghị trường đến báo chí, Cụ Huỳnh Thúc Kháng luôn nhất quán trong một mục tiêu: bảo vệ quyền lợi Nhân dân, đấu tranh cho dân quyền, dân sinh, góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc và thúc đẩy những cải cách phù hợp với hoàn cảnh đất nước.

Đến với cách mạng, đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một thời kỳ mới của dân tộc. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Chính quyền cách mạng còn non trẻ, đất nước phải đối mặt với nhiều thách thức về đối nội và đối ngoại. Trong bối cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng tài năng, đức độ và uy tín của cụ Huỳnh Thúc Kháng, mời Cụ tham gia Chính phủ, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Việc một chí sĩ yêu nước lão thành, không phải là đảng viên cộng sản, được mời tham gia Chính phủ thể hiện sinh động chủ trương tập hợp, trọng dụng nhân sĩ, trí thức và những người yêu nước vào công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Cụ tham gia những công việc quan trọng trong tổ chức và củng cố chính quyền, xây dựng bộ máy hành chính, công chức, công vụ, pháp chế, hành chính, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự trị an và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước.

Cụ cũng tham gia những nhiệm vụ đối ngoại và công tác tập hợp lực lượng yêu nước. Tháng 5/1946, Cụ được bầu làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, tức Hội Liên Việt, góp phần tập hợp nhân sĩ, trí thức, các tầng lớp xã hội, tổ chức chính trị, tôn giáo và những lực lượng yêu nước cùng tham gia kháng chiến, kiến quốc.

Đây là một trong những đóng góp nổi bật của Cụ đối với việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong những ngày đầu của nền độc lập.

 

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” - bản lĩnh của một người gánh vác việc nước

Ngày 31/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp để đàm phán. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, khi đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, được giao giữ chức Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian Người vắng mặt. Tư liệu của Quốc hội xác nhận việc giao trọng trách này từ ngày 31/5/1946; Thông tấn xã Việt Nam ghi thời gian Cụ đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước đến ngày 20/10/1946. Trước khi lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Cụ phương châm: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Trong khoảng thời gian ấy, tình hình đất nước hết sức phức tạp. Chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền độc lập chưa được củng cố vững chắc, các thế lực chống phá tìm cách gây rối, chia rẽ và lật đổ chính quyền.

Trên cương vị được giao, Cụ vừa giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, vừa thay mặt Chủ tịch điều hành công việc thường ngày của Chính phủ, ký các công văn và chủ tọa các phiên họp Hội đồng Chính phủ.

Điều đáng quý là trong thực hiện trọng trách, Cụ luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên những khác biệt về chính kiến. Uy tín của Cụ được xây dựng không phải từ quyền lực hay chức vị, mà từ cả một quá trình dài giữ gìn khí tiết, tận tâm với dân, với nước.

Ngày 23/10/1946, trong Lời Tuyên bố với quốc dân sau khi từ Pháp về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong thời gian Người vắng mặt, khẳng định nhờ sự lãnh đạo của Cụ, sự giúp đỡ của Quốc hội, Chính phủ và sự đồng tâm hợp lực của quốc dân mà nhiều việc khó khăn đã được giải quyết, công cuộc kiến thiết cũng tiến bộ.

Sự tín nhiệm ấy là một minh chứng sinh động cho giá trị của nhân cách và uy tín xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao việc nước cho Cụ bởi Cụ là người đã được thử thách qua nhiều hoàn cảnh và luôn giữ vững nguyên tắc phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Tuổi cao, sức yếu nhưng không ngừng phụng sự Tổ quốc

Cuối năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Trong hoàn cảnh đất nước bước vào cuộc chiến đấu lâu dài, dù tuổi cao, sức yếu, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn nhận nhiệm vụ của Chính phủ đi kinh lý miền Trung để tuyên truyền, giải thích đường lối kháng chiến, kiến quốc, động viên đồng bào, chiến sĩ và củng cố niềm tin vào Chính phủ, vào cách mạng. Đây là hình ảnh đặc biệt cảm động về trách nhiệm của một người đã dành phần lớn cuộc đời cho dân tộc.

Sau hơn 40 năm hoạt động, trải qua tù đày, đấu tranh nghị trường, làm báo, tham gia chính quyền cách mạng, Cụ hoàn toàn có thể lựa chọn nghỉ ngơi. Nhưng khi Tổ quốc cần, Cụ vẫn nhận nhiệm vụ. Trên đường công tác, Cụ lâm bệnh nặng. Trước lúc qua đời, Cụ vẫn gửi điện văn tạ từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, kêu gọi đồng bào, chiến sĩ tiếp tục chiến đấu, bảo vệ nền độc lập và kêu gọi các đảng phái, tôn giáo đoàn kết xung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh để cứu nước.

Ngày 21/4/1947, cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần tại Quảng Ngãi khi đang thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ, hưởng thọ 70 tuổi. Nhân dân an táng Cụ trên núi Thiên Ấn, tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 29/4/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư báo tin Cụ qua đời và tổ chức quốc tang để bày tỏ lòng thương tiếc, tôn vinh một bậc đại chí sĩ “học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”, suốt đời “phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.

Ngày 27/12/2012, Chủ tịch nước truy tặng cụ Huỳnh Thúc Kháng Huân chương Sao Vàng, ghi nhận những công lao, cống hiến to lớn của Cụ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Tầm vóc của một bậc đại trí thức yêu nước

Nhìn lại cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng, có thể thấy ở Cụ sự thống nhất hiếm có giữa trí tuệ, khí tiết, lòng yêu nước, thương dân và tinh thần hành động.

Cụ là một người có học nhưng không lấy học vấn làm phương tiện tìm kiếm danh lợi. Đỗ đạt cao nhưng không ra làm quan; lựa chọn dấn thân vào công cuộc chấn hưng đất nước. Cụ là người có chính kiến nhưng không cực đoan; trong những thời điểm lịch sử khác nhau, luôn tìm kiếm phương thức phù hợp để thực hiện mục tiêu phụng sự đất nước. Cụ là người làm báo nhưng không xem báo chí chỉ là nghề nghiệp; Cụ coi đó là phương tiện nâng cao dân trí, phản ánh đời sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân. Cụ là một nhân sĩ không phải đảng viên cộng sản nhưng đã đến với cách mạng bằng lòng yêu nước và uy tín của mình, nhận trọng trách trong Chính phủ và cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh góp phần củng cố chính quyền cách mạng. Cụ là người có tuổi cao, sức yếu nhưng khi Tổ quốc cần vẫn nhận nhiệm vụ đi vào vùng kháng chiến. Ở mọi chặng đường, một điểm chung xuyên suốt cả cuộc đời của Cụ là vì lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân.

Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá Cụ bằng những lời đặc biệt trân trọng: “Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”; “giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan”; “cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”. Đó cũng chính là sự khái quát cô đọng nhất về tầm vóc nhân cách của cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Tinh thần đại đoàn kết - một giá trị lớn trong di sản Cụ Huỳnh

Trong cuộc đời hoạt động của mình, Cụ Huỳnh Thúc Kháng luôn coi trọng việc quy tụ những người yêu nước, tôn trọng những khác biệt và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.

Điều này thể hiện rõ trong hoạt động của Cụ tại Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam và trong thời gian Cụ đảm nhiệm trọng trách Quyền Chủ tịch nước.

Đối với một đất nước vừa giành được độc lập, sự đoàn kết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những khác biệt về chính kiến, tổ chức, tầng lớp hay tôn giáo không thể trở thành nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh dân tộc khi đất nước đang phải đối diện với những thử thách lớn. Cụ từng cảnh báo về nguy cơ chia rẽ trong nội bộ và nhấn mạnh yêu cầu đặt lợi ích quốc gia lên trên những bất đồng. Đề cương tuyên truyền ghi lại tư tưởng của Cụ: khi bên ngoài còn có thế lực đe dọa mà “trong nhà anh em bất hòa, xâu xé nhau” thì đó là mối họa lớn cho dân tộc.

Giá trị của tư tưởng ấy không chỉ thuộc về một giai đoạn lịch sử. Trong mọi thời kỳ, xây dựng đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin, phát huy dân chủ, tôn trọng những khác biệt chính đáng và quy tụ mọi nguồn lực vì lợi ích chung luôn là điều kiện quan trọng để phát triển đất nước.

Trách nhiệm của người trí thức - từ bài học của Cụ Huỳnh đến hôm nay

Một trong những di sản có ý nghĩa lâu dài của cụ Huỳnh Thúc Kháng là quan niệm về trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh dân tộc.

Tri thức, theo tinh thần cuộc đời Cụ, không chỉ để hoàn thiện bản thân mà phải hướng đến những giá trị chung của xã hội.

Từ nền học vấn Nho học, Cụ chủ động tiếp nhận những tư tưởng mới, tự học tiếng Pháp, nghiên cứu sách báo, theo dõi tình hình trong nước và thế giới. Cụ coi trọng thực học, khuyến khích mở mang dân trí và luôn đặt vấn đề tri thức trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước.

Trong hoạt động báo chí, Cụ đề cao tính chính xác, sự trung thực và trách nhiệm trước công chúng. Trong hoạt động nghị trường, Cụ nói lên những vấn đề thiết thân của người dân. Trong hoạt động chính quyền, Cụ sử dụng trí tuệ và kinh nghiệm của mình để phục vụ công việc chung.

Đó là một hình mẫu về người trí thức gắn bó với xã hội, không đứng ngoài những vấn đề lớn của thời đại.

Trong điều kiện hiện nay, bài học ấy càng gợi mở nhiều điều đáng suy ngẫm. Đất nước đang đứng trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, đẩy mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Trong quá trình đó, trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, nhà báo và đội ngũ chuyên gia có vai trò quan trọng trong sáng tạo tri thức, phản biện, lan tỏa những giá trị tốt đẹp và đóng góp vào hoạch định, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển.

Tinh thần của Cụ Huỳnh gợi nhắc rằng càng có tri thức, càng phải có trách nhiệm; càng có uy tín, càng phải biết phụng sự; càng có năng lực, càng phải hướng năng lực ấy vào những giá trị có ích cho cộng đồng và đất nước.

Học từ Cụ Huỳnh: giữ vững nguyên tắc, linh hoạt trong hành động

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là một trong những câu nói gắn liền với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Nhưng giá trị của phương châm ấy không chỉ nằm ở một thời điểm lịch sử.

“Bất biến” là những giá trị, nguyên tắc căn bản không thể thay đổi: độc lập dân tộc, lợi ích quốc gia, quyền lợi chính đáng của Nhân dân, trách nhiệm đối với Tổ quốc. “Vạn biến” là phương thức hành động cần phù hợp với điều kiện thực tế.

Nhìn lại cuộc đời Cụ, có thể thấy phương châm ấy đã được thể hiện qua nhiều lựa chọn: Khi đất nước cần thức tỉnh dân trí, Cụ tham gia Duy Tân; khi nghị trường có thể trở thành diễn đàn để lên tiếng vì quyền lợi Nhân dân, Cụ tham gia nghị trường; khi báo chí trở thành phương tiện có sức lan tỏa, Cụ sáng lập và điều hành Tiếng Dân; khi Nhà nước cách mạng cần tập hợp những nhân sĩ, trí thức yêu nước, Cụ tham gia Chính phủ; khi nền độc lập đứng trước thử thách, Cụ nhận trọng trách Quyền Chủ tịch nước; khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Cụ tiếp tục nhận nhiệm vụ đi vào miền Trung.

Phương thức thay đổi theo hoàn cảnh, nhưng mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân không thay đổi. Đó là một trong những giá trị quan trọng nhất mà cuộc đời Cụ để lại.

Từ di sản lịch sử đến trách nhiệm hôm nay

Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng là dịp để ôn lại một cuộc đời lịch sử, nhưng ý nghĩa sâu xa hơn là tiếp tục nhận diện những giá trị có thể góp phần bồi dưỡng nhân cách, trách nhiệm và ý thức công dân trong giai đoạn hiện nay.

Đối với cán bộ, đảng viên, cuộc đời Cụ gợi nhắc yêu cầu giữ gìn phẩm chất, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm; đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân; gần dân, trọng dân, lắng nghe dân và giải quyết những vấn đề chính đáng của Nhân dân.

Đối với đội ngũ trí thức, bài học nổi bật là phải không ngừng học tập, đổi mới tư duy, giữ chính kiến, tôn trọng sự thật và gắn tri thức với trách nhiệm xã hội.

Đối với đội ngũ những người làm công tác thông tin, tuyên truyền, báo chí, di sản Tiếng Dân gợi mở yêu cầu coi trọng tính chính xác, tính trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp; thông tin phải hướng đến phục vụ lợi ích chính đáng của xã hội, góp phần củng cố niềm tin và đồng thuận.

Đối với thế hệ trẻ, cuộc đời Cụ là câu chuyện về một người trẻ ham học, có chí hướng, biết vượt qua những lựa chọn về danh lợi cá nhân để dấn thân vào những vấn đề lớn của đất nước; đồng thời là bài học về tinh thần tự học, ý chí vượt khó và khát vọng cống hiến.

Đối với quê hương Đà Nẵng, việc tưởng nhớ và phát huy giá trị di sản của Cụ càng có ý nghĩa khi nơi đây là vùng đất gắn với quê hương, tuổi thơ và những năm tháng đầu đời của một nhân vật lớn trong lịch sử dân tộc.

Việc bảo tồn, phát huy giá trị Khu di tích Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng đang được thành phố quan tâm, hướng đến tôn vinh, giáo dục truyền thống và phát huy giá trị di tích trong đời sống đương đại.

Qua đó, lịch sử không chỉ được lưu giữ trong những trang sách hay di tích mà trở thành một nguồn lực tinh thần góp phần giáo dục truyền thống, bồi dưỡng lòng yêu nước và trách nhiệm công dân.

Khí tiết, trí tuệ và tinh thần phụng sự - di sản không phai của Cụ Huỳnh

Cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng có thể được nhìn nhận từ nhiều phương diện: nhà yêu nước, nhà duy tân, nhà hoạt động nghị trường, nhà báo, nhà văn hóa, nhà hoạt động cách mạng và cán bộ lãnh đạo Nhà nước.

Nhưng vượt lên trên những danh xưng ấy là một nhân cách. Một nhân cách được hình thành từ học vấn nhưng không dừng ở học vấn; từ lòng yêu nước nhưng được thể hiện bằng hành động; từ chính kiến nhưng luôn hướng tới lợi ích chung; từ khí tiết nhưng không tách rời trách nhiệm xã hội.

Cụ đã trải qua những thử thách lớn: tù đày, kiểm duyệt, sức ép chính trị, những giới hạn của nghị trường, những khó khăn của chính quyền cách mạng và cuối cùng là những năm tháng kháng chiến gian khổ.

Qua tất cả những thử thách ấy, Cụ vẫn giữ được sự nhất quán về nhân cách. Đó chính là điều làm nên sức sống lâu dài của tấm gương Huỳnh Thúc Kháng.

150 năm kể từ ngày Cụ ra đời, đất nước đã có những bước phát triển to lớn. Những vấn đề của thời đại hôm nay khác xa hoàn cảnh đầu thế kỷ XX. Nhưng những giá trị căn bản như yêu nước, trọng dân, trọng tri thức, giữ khí tiết, sống có trách nhiệm, biết đoàn kết và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại hôm nay.

*

Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh ra trên quê hương Quảng Nam, trưởng thành trong những năm tháng đất nước chìm trong cảnh mất nước, đã lựa chọn một cuộc đời không vì danh vị, không vì lợi lộc mà vì dân, vì nước.

Từ người khoa bảng, Cụ trở thành chí sĩ Duy Tân; từ người tù Côn Đảo trở thành nhà hoạt động nghị trường; từ nghị trường đến Tiếng Dân, Cụ kiên trì cất lên tiếng nói vì dân quyền, dân sinh và lợi ích dân tộc; từ một nhân sĩ yêu nước, Cụ đến với cách mạng, đảm nhận trọng trách Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam và Quyền Chủ tịch nước; đến những ngày cuối đời, dù tuổi cao, sức yếu, Cụ vẫn nhận nhiệm vụ đi kinh lý các tỉnh miền Trung, tiếp tục phụng sự Tổ quốc và Nhân dân.

Cuộc đời Cụ là một dòng chảy nhất quán của lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm.

Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, Cụ là người “học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”, một con người mà “giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan”; cả đời chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.

Những lời ấy không chỉ là sự tưởng niệm đối với một bậc chí sĩ đã khuất, mà còn là sự khái quát về một chuẩn mực nhân cách đáng trân trọng trong lịch sử dân tộc.

Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng là dịp để mỗi chúng ta thêm hiểu một con người, một thời đại và một chặng đường lịch sử; đồng thời thêm trân trọng những giá trị mà Cụ để lại: lòng yêu nước gắn với hành động, thương dân bằng trách nhiệm, trọng tri thức, giữ vững khí tiết, tôn trọng sự thật, phát huy đại đoàn kết và tận tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Đó cũng chính là những giá trị làm nên tầm vóc của Cụ Huỳnh Thúc Kháng - một bậc đại trí thức yêu nước, một chí sĩ có khí tiết, một người con ưu tú của quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng, và một nhân cách lớn của dân tộc Việt Nam.

 

* Những mốc thời gian trong cuộc đời Cụ Huỳnh Thúc Kháng:

01/10/1876: Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh tại làng Thạnh Bình, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).

Năm 1900: Đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương, đứng đầu kỳ thi Hương.

Năm 1904: Đỗ Tiến sĩ, nhưng không ra làm quan, lựa chọn con đường hoạt động yêu nước, canh tân đất nước.

Năm 1905: Cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp vào phía Nam, tìm hiểu thực tế, xem xét dân tình, sĩ khí; đề xướng tân học và vận động phong trào Duy Tân.

Năm 1906: Trở về Quảng Nam, cùng các đồng chí khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân, vận động nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, phát triển dân sinh.

24/02/1908: Bị thực dân Pháp bắt; sau đó bị kết án và đày ra Côn Đảo.

1908 - 1921: Trải qua 13 năm tù đày tại Côn Đảo. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt, Cụ vẫn giữ vững khí tiết, lòng yêu nước và ý chí đấu tranh.

Năm 1921: Được trả tự do, trở về quê hương và tiếp tục hoạt động vì dân, vì nước.

Năm 1926: Được bầu làm dân biểu Trung Kỳ, sau đó được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ.

Năm 1927: Sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế, làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Báo hoạt động liên tục trong 16 năm, trở thành một tiếng nói có ảnh hưởng trong đời sống chính trị, xã hội Trung Kỳ.

Năm 1928: Từ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ.

24/04/1943: Báo Tiếng Dân bị đình bản sau 16 năm hoạt động, với 1.766 số báo.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Tháng 5/1946: Được cử làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt).

31/05/1946 - 20/10/1946: Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, Cụ được giao giữ chức Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, điều hành công việc của Nhà nước theo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Tháng 12/1946: Được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử làm Đặc phái viên của Chính phủ, đi kinh lý miền Trung, tuyên truyền, giải thích đường lối kháng chiến, kiến quốc; vận động đồng bào ủng hộ Chính phủ, ủng hộ cách mạng.

21/04/1947: Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần tại Quảng Ngãi trong khi đang thực hiện nhiệm vụ. Cụ hưởng thọ 70 tuổi.

27/12/2012: Cụ Huỳnh Thúc Kháng được truy tặng Huân chương Sao Vàng, phần thưởng cao quý ghi nhận những cống hiến to lớn của Cụ đối với sự nghiệp cách mạng và dân tộc.

01/10/2016: Lễ kỷ niệm 140 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng được tổ chức trọng thể tại tỉnh Quảng Nam với sự tham dự của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương và tỉnh Quảng Nam. Đây là dịp quan trọng để tưởng niệm, tôn vinh và khẳng định những cống hiến to lớn của Cụ đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

01/10/2026: Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng được tổ chức trọng thể tại thành phố Đà Nẵng với sự tham dự của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương và thành phố Đà Nẵng.

 

 

 

* Các hoạt động kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng:

Nhân kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 - 01/10/2026), thành phố Đà Nẵng tổ chức và phối hợp tổ chức nhiều hoạt động nhằm tưởng nhớ, tôn vinh công lao, những đóng góp to lớn của Cụ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, gồm:

(1) Hội thảo khoa học về cụ Huỳnh Thúc Kháng được tổ chức phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; đồng thời phối hợp bổ sung tư liệu cho phim tài liệu và xuất bản sách về Cụ.

(2) Cuộc thi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp cụ Huỳnh Thúc Kháng được tổ chức phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; phát hành bộ tem bưu chính chào mừng 150 năm Ngày sinh Cụ.

(3) Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về thân thế, sự nghiệp và những cống hiến của cụ Huỳnh Thúc Kháng; thực hiện số Báo Đà Nẵng cuối tuần chuyên đề, phóng sự phim tài liệu và chương trình tọa đàm trên truyền hình về cuộc đời, sự nghiệp của Cụ.

(4) Lễ dâng hương, dâng hoa tại mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng ở núi Thiên Ấn, phường Trương Quang Trọng, tỉnh Quảng Ngãi và tại Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng ở xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng, dự kiến tổ chức ngày 30/9/2026.

(5) Lễ kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng với chủ đề “Lễ kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 - 01/10/2026)”, dự kiến tổ chức ngày 01/10/2026.

(6) Rà soát, tôn tạo, trùng tu Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di tích gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Cụ.

 

 

--------—–--------

Tác giả: BBT

Các tin cũ hơn:

icon

Tài liệu kỳ họp HĐND

icon

Nghị quyết HĐND

icon

Bản đồ hành chính

icon

Danh mục

icon

Thăm dò ý kiến

Bạn cảm thấy website của chúng tôi như thế nào ?
icon

Thống kê truy cập

Tổng số lượt truy cập

0000388709

Đang truy cập: 52
Hôm nay: 2594
Hôm qua: 861
Tháng này: 38237
Tháng trước: 53782